Thầy Giàu trong lòng tôi

DẠY VÀ HỌC. Tôi thật xúc động trước tấm lòng và gương lao động tận tuỵ của GS. Nguyễn Lân Dũng đã đúc kết những nét chính trong đời Thầy Trần Văn Giàu thành bộ sưu tập quý giá Thầy Giàu đại thượng thọ nên không nỡ chậm cảm nhận bài viết này. Trước chúng ta đã có Tổng tập Trần Văn Giàu, Hồi ký Trần Văn Giàu và nhiều bài viết về Thầy Giàu mà tôi đã yêu kính sưu tầm thành chuyên mục Tưởng nhớ bác Trần Văn Giàu để tự học và giúp bạn đọc tiện tra cứu. Tôi cũng có viết các bài: Trí tuệ bậc Thầy của cặp song sinh thế kỷ (ảnh trên); Giáo sư Trần Văn Giàu bài học lớn trong câu chuyện nhỏ; Nhân đọc Lữ Phương viết về hồi ký Trần Văn Giàu. Tôi vẫn ngậm ngùi “Hình như vấn đề Nam Bộ và quy non sông về một mối, vấn đề lãnh tụ và ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, chiến lược và sách lược, tổng thể và vùng miền … chưa được luận bàn thấu tình đạt lý để hiểu được uẩn khúc lịch sử và đời người (như trao đổi của anh Lê Văn về chiêu tuyết cụ Phan Thanh Giản) .

Tôi suy ngẫm về ba câu hỏi:

1) Nếu chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam Bộ Trần Văn Giàu, người ra lệnh Nam Bộ kháng chiến ngày 23.9.1945, mà sau này Bác Hồ đánh giá “chú Giàu quyết định đúng”được nằm trong bộ thống soái tối cao của cách mạng Việt Nam cùng chủ tịch Hồ Chí Minh với đại tướng Võ Nguyên Giáp cặp song sinh thế kỷ và thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng các bậc cách mạng tiên liệt khác thì vận mệnh dân tộc Việt Nam liệu sẽ ra sao? Nghĩa là nếu thầy Giàu không điều ra Bắc hoặc sau khi điều ra Bắc lại đảm nhận trọng trách hơn nhiệm vụ thầy đã thực hiện (xây dựng lực lượng chiến trường phối hợp tại Thái Lan, Căm pu chia, bí thư Đảng Đoàn thời kỳ đầu của Trường Đại Học Sư phạm, bậc thầy đầu ngành về tổng kết lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đến ngày Việt Nam thống nhất, đại tập thành nghiên cứu địa chí văn hoá, lịch sử khẩn hoang Nam Bộ) thì tình hình đất nước dự đoán sẽ diễn biến ra sao?

2) Cuốn sách “Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” của bác Võ Nguyên Giáp chủ biên cùng với bài viết “Nhân cách lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh” của thầy Trần Văn Giàu cùng với bộ phim tư liệu “Hồ Chí Minh một hành trình” (Huỳnh Văn Nam, Nguyễn Việt Hùng, Trần Đức Tuấn và tập thể HTV9) liệu có phải là ba tác phẩm hay nhất hiện tại về tư tưởng, nhân cách và hành trình Hồ Chí Minh? Tác phẩm của bác Võ Nguyên Giáp đã phân tích sâu sắc về tư duy chính trị quân sự kiệt xuất của Bác “thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Tác phẩm của thầy Trần Văn Giàu trình bày súc tích, giản dị, khúc chiết về nhân cách Hồ Chí Minh với tầm cao văn hoá và con người. Thầy viết “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: “Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

3) Chúng ta học và làm thế nào cho tốt theo lời thầy Giàu trong bài “Nhân cách Trần Nhân Tông”: “Từ hôm nay về sau tôi không viết sử nữa. Tôi bắt đầu viết về những vấn đề vượt lên trên sử, có thể giới thiệu cho thế hệ này, nhưng cũng có thể cho thế hệ sau, cũng chưa vội.” ? Khi được hỏi “Có nên nói về châu Ô, châu Rí không?” thầy Giàu đã trả lời: “Có lúc nói, có lúc không. Chúng ta dưa vào lịch sử để nói, nhưng chúng ta không nên đi quá nhiều về lịch sử, bây giờ thì không cần nói vấn đề đó. Qua lịch sử, chúng ta nói về những vấn đề vượt lên trên lịch sử. Qua lịch sử ta nói đến con người, nhân cách của Người. Từ nhân cách ấy, cho ta thấy nhân cách của một dân tộc. Một đất nước sản sinh ra được một con người có một không hai trên thế giới, thử hỏi đất nước ấy và dân tộc ấy có đặc biệt hay không ?”

Lời của Thầy không chỉ là vàng, đó là ngọc. Ngọc phương Nam. Thầy tự viết cho chính thầy nhưng đó cũng là lời khuyên sâu sắc cho người đương thời và hậu thế “Vượt lên trên lịch sử, qua lịch sử ta nói đến CON NGƯỜI, nhân cách của Người” Đó là lời chí tình chí nghĩa đối với những người mang trọng trách đối với đất nước, những người cầm bút và tất cả chúng ta. Tôi chọn bút hiệu Dạy và học Ngọc phương Nam vì muốn noi theo Thầy học làm người tử tế phúc hậu, “dĩ công vi thượng”, biết vượt lên nghịch cảnh, vinh nhục để sống tốt với những người xung quanh. Tôi thích học viết về văn hoá, lịch sử, trao truyền kiến thức nghế nghiệp và vinh danh những tấm gương sáng quanh ta và trong lịch sử, quê hương đất nước Việt Nam.

Thầy Trần Văn Giàu trong lòng tôi.

TRÍ TUỆ BẬC THẦY CỦA CẶP SONG SINH THẾ KỶ

“…Đi ra Bắc thì “đi dễ khó về” lắm, mà không về Nam trong chiến tranh thì làm sao cho đồng bào, đồng chí hiểu được mình? Có thể ngừng xe ở Dầu Giây, để một mình Thạch đi ra Bắc, mình ở lại Nam Bộ, trở lại vùng Tà Lài, tự mình gây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng, không phải để “cát cứ nhất phương” mà để tạo ra một thứ chiến khu làm chủ đường số 1, số 20, mà chẳng sớm thì chầy, Pháp và Anh sẽ đánh chiếm để ra Trung Bộ và lên Tây Nguyên. Lượng sức, có thể làm được việc ấy. Nhưng làm như vậy là mắc phải kỷ luật Đảng và Nhà nước. Khó nghĩ quá! Thôi, đi ra Bắc rồi xin trở về Nam, nếu không được sẽ xin đi Miên, cái appui logistique này cần quá, ai chớ Võ Nguyên Giáp thì sẽ hiểu tôi ngay. Giáp chắc sẽ đồng ý, và tôi là người tháo vát, chắc sẽ còn đất dụng võ, đất chùa Tháp đang cần có phong trào, cần có người, chắc tôi không “thất nghiệp” đâu[15]. Và tôi vẫn còn có thể trả lời cho câu hỏi tất phải có của đồng bào Sài Gòn và Nam Bộ: “Anh đi đâu, làm gì, mấy năm rồi?” mà không bị xấu hổ.Vậy thì cứ tiếp tục, “an tâm” đi ra Bắc với Phạm Ngọc Thạch…”. Đó là trích đoạn trong Hồi ký Trần Văn Giàu.

Bác Trần Văn Giàu là người tận lực và thức thời. Bác Trần có sách hay (1), trò giỏi (2), thầy quý (3) vợ hiền (4) bạn đồng hành thế kỷ (5) và sống phúc hậu giữa lòng dân. Bác không tiếp tục làm nhà cách mạng, nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo quốc gia nhưng lại thung dung làm nhà sử học, nhà văn hóa, nhà giáo dục. Sự nghiệp ấy, thời thế ấy, điều kiện ấy, bác đã tận lực, thức thời và đều đạt đến đỉnh cao. Bài học lớn trong câu chuyện nhỏ của Bác viết về “Nhân cách Trần Nhân Tông” và “Nhân cách lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh” rất ngắn, rất hay và sâu sắc hiếm thấy.

Người hiền đi xa, tiếng thơm còn mãi. Bác viết rằng thế giới đổi thay chỉ giá trị nhân văn và tri thức hợp thời còn lại. Sau năm trăm năm, dân Việt sẽ còn nhớ đến Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Nhân cách và di sản tri thức của bác Trần Văn Giàu chắc chắn sẽ còn nhiều người tìm lại không chỉ vì sử và văn hóa mà vượt lên trên sử, bác đã và đang nói đến CON NGƯỜI.

Bác Võ Nguyên Giáp “dĩ công vi thượng” thiên tài quân sự, biết mình biết người. Thật đẹp tấm ảnh đại tướng Võ Nguyên Giáp và giáo sư Trần Văn Giàu chụp chung. Trí tuệ bậc Thầy của cặp song sinh thế kỷ.

GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU BÀI HỌC LỚN TRONG CÂU CHUYỆN NHỎ

Giáo sư Trần Văn Giàu (1911–2010)qua đời vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 16 tháng 12 năm 2010, tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.Hồ Chí Minh. Giáo sư là một người Thầy nhân cách, trí tuệ, người chủ một gia tài đặc biệt)[2], trăm năm vui giữa nhân gian)[3], một năm trong một trăm năm)[4] với muôn vàn thương yêu của cộng đồng dân tộc. Trong các trang sử đổ mồ hôi và những vấn đề vượt lên trên sử của giáo sư có minh triết ông cha và bản lĩnh dân tộc Việt. “Nhân cách Trần Nhân Tông” và “Nhân cách chủ tịch Hồ Chí Minh” là hai bài rất ngắn của giáo sư (đúng ra là một bài trả lời và một bài viết rất ngắn) đối với hai nhân vật lớn, rất lớn, có thể nói là lớn nhất Việt Nam trên hai mươi thế kỷ qua. Phải là người kiệt xuất mới tóm tắt được cực ngắn và cực hay như thế. Bài học lớn trong câu chuyện nhỏ.

NHÂN CÁCH TRẦN NHÂN TÔNG

Vào lúc 10/11/2002 lúc 10g30 sáng, tại tư gia Giáo sư Trần Văn Giàu quận 11 thành phố Hồ Chí Minh.

Đạo sư Duy Tuệ (ĐSDT) cùng nhà báo nhà văn Việt Anh, kỹ sư Phạm Bá Quang và bà Nguyễn Thị Bạch Liễu đến thăm Giáo sư Trần Văn Giàu. Nội dung trao đổi giữa ĐSDT và GS.Trần Văn Giàu: Những vấn đề cơ bản về con người Trần Nhân Tông có thể nói trong Hội thảo Khoa học về “Cuộc đời và sự nghiệp Trần Nhân Tông” do Trung tâm Unesco Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam phối hợp cùng Đại học Khoa học Tự nhiên Huế sắp tổ chức tại Huế.

ĐSDT: Thưa Giáo sư , trong hội thảo khoa học sắp tới nên đề cập đến những vấn đề gì về cuộc đời và sự nghiệp của Người?

GS. Trần Văn Giàu: có nhiều chuyện để nói và nhiều người đã nói và nói nhiều rồi. Vấn đề là làm sao nói cho thật hay. Có lẽ tôi đọc khá nhiều về sử các nước trên thế giới nhưng chưa tìm thấy lịch sử nước nào có một người đặc biệt như Trần Nhân Tông ở Việt Nam. Người (tôi mở ngoặc chữ Người phải viết hoa chữ N) đặc biệt ở chỗ nào?

Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắn thần tốc , đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại , đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi.

Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !

ĐSDT: Thưa Giáo sư có học giả cho rằng nhờ tinh thần đạo Phật , tinh thần vô ngã của đạo Phật mà Trần Nhân Tông mới dũng cảm như vậy?

GS. Trần Văn Giàu: Có bao nhiêu người theo đạo Phật nhưng có ai giống như Người không? có ai có lý tưởng như Người không? Còn nói về tinh thần yêu nước thì đương nhiên rồi nhưng theo tôi thì chưa đủ. Chúng ta nên chú ý đến tình thương . Có lẽ vì lòng thương người quá lớn nên mới bản lãnh như vậy.

ĐSDT: Chúng ta có nên đề cập đến vấn đề châu Ô châu Rí không?

GS. Trần Văn Giàu: Có lúc nói, có lúc không. Chúng ta dưa vào lịch sử để nói , nhưng chúng ta không nên đi quá nhiều về lịch sử, bây giờ thì không cần nói vấn đề đó. Qua lịch sử, chúng ta nói về những vấn đề vượt lên trên lịch sử. Qua lịch sử ta nói đến con người, nhân cách của Người. Từ nhân cách ấy, cho ta thấy nhân cách của một dân tộc. Một đất nước sản sinh ra được một con người có một không hai trên thế giới, thử hỏi đất nước ấy và dân tộc ấy có đặc biệt hay không ?

Từ hôm nay về sau tôi không viết sử nữa. Tôi bắt đầu viết về những vấn đề vượt lên trên sử, có thể giới thiệu cho thế hệ này, nhưng cũng có thể cho thế hệ sau, cũng chưa vội.

Từ nay cho đến khi hội thảo sẽ có nhiều người cùng đóng góp nội dung cho hội thảo, riêng tôi sẵn sàng trao đổi với Ban tổ chức những điều quý vị nêu ra. Tôi nhận làm cố vấn thực tiễn cho nội dung của hội thảo, nhưng ban tổ chức thông cảm, tôi quá già yếu không thể đi xa được, xin mời quý vị đến đây cùng trao đổi.

ĐSDT: Xin cám ơn Giáo sư (Nhà báo nhà văn Việt Hà ghi)

NHÂN CÁCH LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Nhiều học giả đã nghiên cứu về Cụ Hồ-Nhà lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, nhà sáng tạo tư tưởng, nhà văn hoá lớn của thế giới. Bài viết này chỉ xin đề cập đến một phạm vi hẹp hơn, đó là nhân cách Cụ Hồ, ngõ hầu góp phần nghiên cứu Cụ như một con người vĩ đại.

Trước hết, phải cắt nghĩa nhân cách là gì? Từ điển tiếng Việt ghi là “phẩm chất con người”. Theo sách “Đường Kách mệnh”, do chính Cụ viết thì nhân cách là “tư cách của người cách mạng”; được Cụ khái quát trong 23 điều ngắn gọn, thuộc về ba cách ứng xử của người cách mạng với: chính bản thân, với người khác và với công việc.

Về nhân cách Cụ Hồ, theo tôi, kết tụ trong bảy điểm cơ bản, cũng là bảy phẩm chất được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca.

1. Ưu tiên đạo đức

Tôi cho rằng quan tâm thật nhiều đến đạo đức, nhân cách là đặc điểm nổi bật nhất của Cụ Hồ, làm cho Cụ khác biệt hẳn với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng khác ở cả ta và Tây.

Nhiều nhà sử học phương Tây đã sớm để ý đến điều khác biệt ấy và họ cứ đinh ninh rằng, đó là do ảnh hưởng của Khổng giáo. Đương nhiên, không thể phủ nhận ảnh hưởng lâu đời của Khổng giáo đến văn hóa Việt Nam.

Cá nhân tôi cho đó trước hết thuộc về truyền thống dân tộc – một đất nước chỉ trong vòng 2.000 năm – hai thiên niên kỷ đã phải hàng chục lần tiến hành kháng chiến chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta gấp bội; muốn tồn tại không thể trông cậy vào số kiếp, mà phải dựa vào chất con người chiến đấu, lâu ngày thành nếp tư tưởng, quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên trì bất khuất, đức quên mình vì nước, vì dân.

Nếu đặt nhân cách, đạo đức lên hàng đầu là duy tâm (như có người nói) thì việc sùng bái tiền hàng, chạy cuồng theo lợi nhuận là duy vật hay sao?

Bởi vậy, khi Lênin từ trần vào năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định rằng: Các dân tộc phương Đông sở dĩ kính mến Lênin vì vị thầy của cách mạng giải phóng sinh tiền là một “người khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”.

Khi mở lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên vào năm 1925 (Cụ Hồ lúc này lấy tên là Vương) đã đặt ra 23 điều thuộc về tư cách người cách mạng lên trang đầu của cuốn sách “Đường Kách mệnh”.

Cho nên, khi bàn về các tiêu chuẩn bầu chọn anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách được Cụ đặt lên hàng đầu, trên cả những thành tích xuất sắc.

Tựa như trong “Luận ngữ”, sách tổ của đạo Nho, chữ “nhân” được nói đi nói lại nhiều nhất. Người đời sau quả có lý để nhận xét, đánh giá: đạo của Khổng phu tử là đạo nhân. Còn trong các bài viết của Cụ Hồ, chữ đạo đức cách mạng được sử dụng nhiều nhất. Con dân Việt Nam xem Cụ Hồ như bậc tái tạo lương tri, xây dựng phẩm chất, nhân cách cho các thế hệ cách mạng, cho kháng chiến và xây dựng hòa bình.

2. Tận tụy quên mình

Đạo đức của Cụ Hồ được cấu thành từ ba mệnh đề, trong đó, mệnh đề thứ nhất là: Trung với nước, Hiếu với dân. Nếu như ngày xưa “trung quân vương và hiếu phụ mẫu” (trung thành với vua, hiếu thảo với cha mẹ), đòi hỏi những gì thì ngày nay nội dung trung với nước, hiếu với dân cũng đòi hỏi như vậy; thậm chí còn cao hơn nữa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân Thái Nguyên -1954

Bởi thế, nếu đã trung với nước, hiếu với dân thì suốt đời phải tận tụy, quên mình phục vụ nước nhà, phục vụ nhân dân. Đây là cái đức lớn nhất, cái gốc của nhân cách Cụ Hồ, là điều mà đồng bào ta và nhân dân thế giới ngợi ca.

Cụ viết: “Bài học chính trong đời tôi là tuyệt đối và hoàn toàn cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc, giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự hợp tác anh em và hòa bình giữa các dân tộc”. Và Cụ đã làm đúng như vậy.

Quên mình vì nước, vì dân đã hiếm; mà tận tụy quên mình suốt đời phục vụ thì vô cùng hiếm hoi, chỉ có bậc thánh nhân và tông đồ của dân mới làm được trọn vẹn.

Học trò, vừa là bạn chiến đấu của Cụ – Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Cụ Hồ không có cái gì riêng; cái gì của nước, của dân là của Người; quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng hàng ngày của Người; gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam”.

Nhà báo Úc nổi tiếng thế giới là Búc-sét có dịp tiếp xúc với Người, đã nhận xét: “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

3. Kiên trì, bất khuất

Có lẽ đoạn văn sau đây của nhà báo La-cót-tơ là tiêu biểu cho công luận quốc tế nhận xét một cách khách quan rằng:

“Trong ngót nửa thế kỷ, ông Hồ Chí Minh lãnh đạo một cuộc chiến đấu chưa từng có, về biến chuyển của chiến thuật và tình huống, về tính đa dạng của cách xử trí, về những hy sinh phải chấp nhận, về sức mạnh yếu khác nhau một trời một vực ở mặt vũ khí.

Bị tòa án thực dân xử tử hình, mươi lần thoát khỏi lưu đày và máy chém, khi thì mặc áo vàng nhà sư Thái Lan, khi thì mặc quân phục đệ bát lộ quân Trung Quốc. Và giành được chính quyền rồi, ông Hồ phải liên tiếp đương đầu với hai đế quốc phương Tây.

Thời nay có nhà cách mạng nào đủ gan lớn mật đầy để chống đối trật tự của các liệt cường với một quyết tâm bền bỉ đến thế? Ông Hồ đã hồi sinh một dân tộc, tái tạo một quốc gia, lãnh đạo hai cuộc chiến tranh, về cơ bản là chiến tranh của những người bị áp bức.

Cuộc chiến đấu của ông chống Mỹ tỏ rõ các giới hạn của sức mạnh kỹ thuật khi đương đầu với con người”.

Dũng cảm, quyết tâm, bền bỉ, bất khuất – Cụ Hồ là như vậy. Tờ Thế giới của Pháp đã có lần viết: “Người Mỹ có thể tàn phá hết đất nước này, nhưng đất nước này thậm chí sau khi bị tàn phá hết, cũng không cúi đầu khuất phục”.

Báo Quốc gia của Ấn Độ đã viết: “Đằng sau cái cốt cách dịu dàng của Cụ Hồ là một ý chí sắt thép. Dưới cái bề ngoài giản dị là một tinh thần quật khởi anh hùng không có gì uy hiếp nổi”.

Điều đáng chú ý là phẩm chất, nhân cách đó của Cụ Hồ cũng là nhân cách, phẩm chất của các môn đệ của Cụ, và cũng là phẩm chất, nhân cách của đại đa số nhân dân Việt Nam. Cho nên cái hy vọng của Mỹ, hễ Cụ Hồ mất thì kháng chiến tất sụp đổ, hy vọng đó trở thành tuyệt vọng.

4- Khiêm tốn, giản dị

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Cụ Hồ rất sôi nổi, long trời, lở đất đến như vậy, tiếng thơm lan khắp năm châu bốn bể, trong Đảng và Chính phủ (Nhà nước và đoàn thể) Việt Nam; Cụ Hồ là người lãnh đạo tối cao được kính mến như vậy; nhưng đời sống của Cụ rất bình thường, vô cùng giản dị, khiêm tốn. Tính giản dị, khiêm tốn của Cụ được ca tụng hết lời, cũng như đức quên mình vì mọi người.

Chủ tịch An-len-dơ của Chilê nhận xét: “Không bao giờ chúng ta thấy sự giản dị và sự vĩ đại đi liền với nhau như vậy”.

Ông M.Kha Li của Cộng hòa Arập thống nhất khẳng định: “Thiên thần thoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc sống giản dị, khiêm tốn”.

Cả Việt Nam, toàn thế giới đều biết đến bộ quần áo kaki sờn, đôi dép cao su mòn, ngôi nhà sàn gỗ đơn sơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chẳng phải từ những ngày đầu đào tạo cán bộ cách mạng (1925), Cụ Hồ với danh xưng là đồng chí Vương đã khuyên cán bộ phải “ít lòng ham muốn vật chất”, “không háo danh kiêu ngạo”. Và Cụ đã sống như những gì Cụ dạy cán bộ. Tính khiêm tốn, giản dị còn thể hiện rõ trong Di chúc năm 1969: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”…

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì… Trên mộ nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi” (Hồ Chí Minh – Toàn tập – Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H,2002. tr.499).

Khó kiếm thay một người công lao đã đạt đến đỉnh cao nhất của vinh quang mà vẫn giữ tính khiêm tốn, giản dị y như thuở hàn vi hoạt động trong vòng vây dày đặc của kẻ thù. Gương sáng chói ấy không một hạt bụi nào có thể bám được.

5- Hài hòa, kết hợp

Có một đức tính lớn của Cụ Hồ mà mãi đến khi Cụ qua đời và phải đọc thật nhiều bài viết của nhân loại ngợi ca Người, ta mới nhận ra được tầm quan trọng. Giống như khi đứng ở chân núi, làm sao thấy được núi cao. Đó là tính hài hòa, sự nhất quán trong suy nghĩ và việc làm, giữa những cái khác nhau, giữa những cái thường bị xem là trái nhau.

Một học trò của Cụ là Lê Duẩn có viết đại ý: Ở Cụ Hồ, tinh hoa của dân tộc kết hợp với Chủ nghĩa Mác – Lênin là đỉnh cao của tư tưởng loài người ở thời đại mới.

Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường của Chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng không tách rời tinh hoa của dân tộc. Bởi ở đó là nơi kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Và Cụ Hồ là người Lêninnít đóng góp lớn nhất, nhiều nhất, hài hòa nhất vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Báo Asahi của Nhật Bản cắt nghĩa rất rõ ràng: “Điều làm cho Cụ Hồ trở thành một lãnh tụ quần chúng tuyệt vời là sự kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp phong trào giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Ta có thể thêm vào một ý: cái này vừa là cứu cánh, vừa làm động lực cho cái kia một cách nhịp nhàng hết sức, như hai dây đồng của một dây đàn.

Đẹp thay, đúng thay lời Jin Rou-sơ viết cho báo Chiến đấu của Pháp: “Từ 30 năm nay, trong số các nhân vật mà tôi được gặp, chắc chắn Cụ Hồ là đáng khâm phục nhất. Cụ là người hoàn toàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì Cụ đã kết hợp đến mức nhuần nhuyễn, phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời, tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người.

Sự hài hòa giữa những tính tình đôi khi trái ngược nhau đó, giải thích tại Cụ Hồ cùng một lúc là nhà thơ, là đảng viên, là nhà lãnh đạo quốc gia, nhà ngoại giao, lại vừa là một chiến sĩ”.

Bên cạnh các tư tưởng lớn và những phẩm chất có tính tư tưởng cao, người ta còn chú ý ở Cụ Hồ sự kết hợp hài hòa của những điều dường như ở mức thấp hơn mà cũng thường gặp hơn trong đời sống hằng ngày.

Báo Ảnh diện của Ấn Độ đặc tả: “Cụ Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn sự tao nhã cao quý với tác phong gần gũi, giữa dân chủ, giữa tự do không nghi thức với sự nghiêm chỉnh thận trọng, vì vậy Cụ Hồ có một sự hấp dẫn đặc biệt, không gì so sánh được”.

Còn báo Chiến sĩ của An-giê-ri lại chú trọng đến một mặt rất dung dị, nhưng rất quan trọng của một sự kết hợp hài hòa ở Cụ Hồ: “Nhà văn, nhà báo, dù ai có ác ý nhất cũng không tìm thấy một chút thiếu sót nhỏ nhặt trong cuộc đời gần 80 năm.

Đây cũng là một trong những bài học mà chúng ta có thể rút ra từ cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người ta không thể là nhà cách mạng trong những việc lớn mà lại thiếu sót trong những việc nhỏ”.

Tôi có thể đem hàng chục, hàng trăm dẫn chứng cụ thể để chứng minh sự kết hợp hài hòa mà các báo trên vừa nói. Cụ Hồ đúng là hiện thân của sự hài hòa.

6- Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý

Như phần lớn các nhà hiền triết cổ kim, đông tây, thương người là một trong những đức lớn của Cụ Hồ – được thể hiện qua từng lời nói, từng việc làm của Cụ suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi.

Trong tiềm thức của Cụ Hồ – thương người đồng nghĩa với nhân ái. Vậy nhân ái của Cụ Hồ khác gì với nhân ái của Khổng Mặc, hay chỉ là một mà thôi? Đương nhiên là khác không nhỏ. Nguyễn Tất Thành – Anh Ba bồi bếp rồi thủy thủ con tàu buôn ấy có một tâm hồn nhạy cảm, xót xa từng thân phận của những người cùng khổ mới có những nét bút làm xúc động lương tâm con người đến thế khi anh mô tả một cuộc hành hình theo kiểu Lunch ở đất Mỹ.

Nếu không có trái tim đập cùng nhịp với những người thất thế cô đơn, làm sao viết chuyện một cụ già ở Epinettơ, Pari, đã mất hết nhà cửa, vợ con trong cuộc đại chiến, đang ngày ngày chờ từng bát cháo từ thiện?

Lòng thương người của Nguyễn Ái Quốc đồng nghĩa với tình thương dành cho các dân tộc bị xích xiềng thực dân. Tình thương của Người không chỉ là cảm thông mà là chỉ dẫn cho người lao động và các dân tộc bị áp bức biết tự mình cởi ách nô lệ, chớ không phải mòn móng ngựa, bánh xe để du thuyết cho vương hầu.

Đi tìm và khai phá con đường cách mạng, Nguyễn Ái Quốc luôn đặt vấn đề tự do song song với hạnh phúc của dân tộc. Có người Mỹ nói: Cụ Hồ vừa là Oasinhtơn, vừa là Lin-con. Đúng mà chưa đủ vì Cụ Hồ còn đi xa hơn nữa với tấm lòng nhân ái thiết thực.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải trải qua nạn đói khủng khiếp do Pháp – Nhật gây ra. Trong tình cảnh vô cùng khó khăn ấy, Cụ Hồ chủ trương phát động nhân dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Bản thân Người gương mẫu mỗi tháng nhịn ăn ba bữa để góp gạo cứu đói, và Cụ Hồ đã đổ lon gạo dành dụm của mình vào hũ gạo tiết kiệm của muôn dân như mọi người dân bình dị.

Những việc làm vì thương người, thương dân của Cụ Hồ sao có thể kể xiết. Ngay cả khi đi Chiến dịch Biên giới, Người không chịu cưỡi ngựa mà cùng đi bộ với 7 cán bộ, chiến sĩ, để ngựa thồ hành lý đỡ cho anh em.

Đoàn được chia chiến lợi phẩm một chai rượu Tây, Cụ bảo mọi người uống xong đừng vứt bỏ chai mà súc sạch rồi đem cho dân đựng hạt giống. Khi đi thăm trại tù binh về, Cụ không còn áo khoác vì đã cho tên quan ba thầy thuốc bị rét cóng.

Hiếm có một lãnh tụ như vậy. Cụ Hồ đích thực có một tình thương mênh mông dành cho bao kiếp người, bao số phận con người.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Những tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch là những tình cảm lớn. Trong đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch, cũng như trong đời sống hàng ngày của mình, Hồ Chủ tịch đối xử với người luôn có lý, có tình. Bác Hồ muôn vàn yêu thương đối với đồng chí, đồng bào,

Trong tình yêu đó, có chỗ cho mọi người, không quên sót một ai và sắp xếp cho mỗi người vị trí chiến đấu, cũng như lo lắng chu đáo cho mỗi người việc làm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa thương yêu dìu dắt… Đối với kẻ lầm đường, lạc lối, lòng Hồ Chủ tịch còn rộng hơn biển cả, Người dạy phải khoan hồng, vui mừng đón rước những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy”.

Cảm động, đẹp đẽ thay lời của Montaron viết trên báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo của Pháp, rằng: “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói thèm khát cuộc sống cho người. Cụ đã dạy cho họ rằng muốn được giải phóng, phải dựa vào sức mình là chính, và một dân tộc chỉ có thể sống còn khi dân tộc ấy không chịu sống nô lệ.

Nhất là Cụ đã dạy rằng, cuộc chiến đấu vì nhân phẩm, tự do phải được đặt trên mọi cuộc chiến đấu khác. Cụ đã đem hết sức mình để đem lại cơm ăn, nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực cho những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ…”.

7- Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên

Không chỉ có tâm hồn cách mạng, thi nhân, thương yêu con người, Cụ Hồ còn yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên của Cụ Hồ khác xa tình yêu thiên nhiên của Lão Trang, bởi Cụ Hồ yêu thiên nhiên đâu phải để tiêu dao, xa trần tục, thế sự.

Tình yêu ấy gắn liền với cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Cụ tìm thấy trong thiên nhiên một nguồn cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Cụ Hồ tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn sau, hoặc trong những giờ phút căng thẳng. Với Cụ Hồ, thiên nhiên như bạn tâm tình; thiên nhiên được nhân hóa, thiên nhiên như người bạn tri ân, bạn chiến đấu.

Ngay cả khi phải ngồi trong nhà tù Quốc dân đảng, Cụ Hồ vẫn có trăng sao làm bầu bạn:

“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Thơ tả thiên nhiên đấy mà thực ra là lời nhắn gửi tới đồng chí rằng Cụ vẫn sống, vẫn giữ vững tinh thần, vẫn nhớ anh em mà không quên nhiệm vụ cách mạng:

“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh
Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa”.

Đặc biệt, thơ Cụ Hồ thấm đượm triết lý chính trị cách mạng khi tả buổi bình minh thức dậy trên đường đi công tác:

“Phương đông màu trắng chuyển sang hồng
Bóng tối đêm tàn quét sạch không
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”.

Thiên nhiên dường như chứng kiến sự tận tụy với công việc của một nhà lãnh đạo kháng chiến ở giữa làng chiến khu Việt Bắc:

“Xem sách, chim rừng vào cửa đậu
Phê văn, hoa núi ghé nghiên soi
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa
Nhớ cụ, thơ xuân tặng một bài”.

Diệp Minh Châu – một nhà điêu khắc quê ở miền Nam, bồi hồi kể lại câu chuyện cảm động ở chiến khu Việt Bắc: “Tôi đang nghe đài phát thanh, bỗng có tiếng Bác gọi: Chú Châu qua đây! Tôi ngồi bên Bác. Bác kéo đầu tôi ghé vai Bác, trỏ ra cửa sổ. Một mảnh trăng lưỡi liềm nhô ra khỏi núi, tỏa sắc xanh huyền ảo xuống những dãy rừng xa. Bác nói: Của chú đấy!”.

Đó là thiên nhiên Việt Bắc. Còn cảnh đẹp Thủ đô Hà Nội trong Người được nhà văn Cuba là Rôđighét mô tả: “Tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bác nhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, và khi gió nhẹ thổi qua bức tranh như có sức sống”.

Không chỉ yêu nước, thương nòi, yêu dân, yêu con người và loài người một cách nồng nhiệt, Cụ Hồ còn yêu thiên nhiên một cách đằm thắm, vừa hàm ơn, vừa hòa hợp với thiên nhiên, gắn thiên nhiên với cuộc đấu tranh vì nhân phẩm và tự do của con người.

Phải chăng trong Người luôn hiện hữu mối quan hệ gần gũi giữa tình yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung tự tại trong lúc bình cũng như khi biến.

Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn

NHÂN ĐỌC LỮ PHƯƠNG VIẾT VỀ HỒI KÝ TRẦN VĂN GIÀU

Giáo sư Trần Văn Giàu là nhân vật lịch sử Nam Bộ, cặp song sinh thế kỷ với đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời đại Hồ Chí Mính. Hồi ký Trần Văn Giàu là tác phẩm sẽ còn được nhiều người đọc lại. Thời gian và sự khen chê không làm nhoà được dấu ấn của người đã góp phần làm nên lịch sử, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử. Bài viết của Lữ Phương “Vài ghi nhận nhân đọc Hồi ký Trần Văn Giàu” có nhiều tư liệu quý đáng đọc và suy ngẫm. Đoạn kết “Riêng với tôi … cho đến hết” còn phải bàn thêm.

Tôi đã đọc khá kỹ tổng tập Trần Văn Giàu, Hồi ký Trần Văn Giàu và nhiều bài viết về Thầy Giàu mà tôi đã yêu kính sưu tầm thành chuyên mục Tưởng nhớ bác Trần Văn Giàu để tự học và giúp bạn đọc tiện tra cứu, đồng thời cũng có viết một ít bài Trí tuệ bậc Thầy của cặp song sinh thế kỷ; Giáo sư Trần Văn Giàu bài học lớn trong câu chuyện nhỏ nhưng lạ lùng thay điều ẩn khuất vẫn còn ở phía trước.

Hình như vấn đề Nam Bộ và non sông quy về một mối vẫn luôn trăn trở trong lòng của các vĩ nhân suốt chiều dài hàng nghìn năm mưu tìm con đường gian nan tiến thủ của dân tộc để mưu sinh tồn và mở rộng tương lai hi vọng cho dân tộc Việt; vấn đề lãnh tụ và ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, chiến lược và sách lược, tổng thể và vùng miền … chưa được luận bàn thấu tình đạt lý để hiểu được uẩn khúc lịch sử và đời người. Tôi nhớ bài thơ từ sách tuổi thơ “Học đi em. Học đi mà nhớ mãi. Quê hương ta một dãi. Từ mũi Cà Mau, đến địa đầu Móng Cái. Quê hương ta. Đồng ruộng phì nhiêu. Đủ bốn mùa hoa trái. Núi Trường Sơn vĩ đại. bờ biển rộng bao la. Có Việt Bắc, mồ ma giặc Pháp , nối liền Đồng Tháp Nam Bộ Thành Đồng…”. Lịch sử cần sự thật và suy ngẫm. Mời bạn xem thêm Lữ Phương viết về Hồi ký Trần Văn Giàu ở đây

Hoàng Kim

Xem thêm

Tran Van Giau – Nha Su hoc Viet Nam.flv

“Mấy cô, mấy chú bây giờ trưởng thành cả rồi, tôi rất mừng. Mấy cô, mấy chú gọi tôi là thầy, tôi không dám nhận đâu. Tôi có may mắn được là người lên lớp cho mấy cô, mấy chú chứ còn làm thầy khó lắm. Không phải cứ ai lên lớp cho mình đã có thể trở thành thầy mình đâu. Đời tôi chỉ có hai người thầy – Đó là Cụ Hồ và khoa học Lịch sử. Cụ Hồ dạy tôi làm người sống có ích cho dân, cho nước mình. Còn khoa học Lịch sử dạy tôi phải trung thực. Trung thực với đời khó mà dễ. Còn trung thực với mình mới khó. Vì mình có trung thực với mình hay không chỉ có mình mình biết mà thôi”. (Trần Văn Giàu)

Chuyên mục Tưởng nhớ bác Trần Văn Giàu để  tiện tra cứu.

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Vào Tràng An Bái Đính

Ảnh

Trước khi lên Yên Tử
Vua Trần vào ở đây
Động thiêng trong núi thắm
Hạ Long cạn nơi này

Đinh, Lê vùng khởi nghiệp
Lý, Trần, Nguyễn …vươn dài
Kỳ Lân trời bảng lãng
Hoàng Long sông chảy hoài

Cao Sơn thăm miếu cũ
Tràng An bao đổi thay
Minh Không thầy đâu nhỉ ?
Lững lờ mây trắng bay …

Hoàng Kim

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

THƠ CHO CON
THUNG DUNG
https://picasaweb.google.com/hoangkim.vietnam/TrangAnBaiDinh?authkey=Gv1sRgCPq40_OxueGrUA#

Xem thêm:

Minh Đỉnh Danh Lam

Lê Thánh Tông

Đính Sơn danh tiếng thực cao xa
Che chở kinh thành tự thuở xưa
Nhân kiệt, địa linh nên vượng khí
Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà.

Video Tràng An Bái Đính

Uploaded by on Jan 23, 2012

CHÙA BÁI ĐÍNH TRÀNG AN
( http://www.hoangtra.vn )

Những bài viết và liên kết chính
(Bấm vào mỗi hàng để xem ảnh)

Lên chùa Đồng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính
Về Nghĩa Lĩnh, Đền Hùng

Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình

Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa

Trở về trang chính
Hoàng Kim
Ngọc Phương Nam
Thung dung
Dạy và học
Cây Lương thực
Học mỗi ngày
Danh nhân Việt
Kim on Twitter
Kim on Facebook

Về Nghĩa Lĩnh đền Hùng

Ảnh

Ngọc phương Nam. Đền Hùng trên Nghĩa Lĩnh. Giêng ngọc dưới trời Nam. Chén cơm truyền con cháu. “Vạn cổ thử giang san” (Đất nước Việt muôn năm). Video tuyển chọn về đền Hùng và chùm ảnh lưu niệm  thăm nơi hội tụ khí thiêng sông núi, chốn tổ của người Việt.

ĐỀN HÙNG ( HI CƯƠNG – VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ ) –
NƠI HỘI TỤ KHÍ THIÊNG SÔNG NÚI

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Nguồn: Ai về Bắc ta theo với (Hoàng Kim)

Những bài viết và liên kết chính
(Bấm vào mỗi hàng để xem ảnh)

Lên chùa Đồng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính
Về Nghĩa Lĩnh, Đền Hùng

Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình

Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC
; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thăm Trường xưa Hà Bắc

Ảnh

Mái trường lộng gió sông Thương

DẠY VÀ HỌC. Trường của ta giữa cánh đồng Hà Bắc mênh mông, gió sông Thương sông Cầu thổi lên trong lòng ta tiếng hát. Yêu đất nước, yêu ruộng đồng ta mang trong lòng mơ ước xây dựng quê hương. Đây là bài hát truyền thống của Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc, tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm Huế và Trường Đại học Nông Lâm  Bắc Giang, hai chị em song sinh ở hai miền đất nước. Bài ca “Hát về mái trường thân yêu” say đắm một thời, ngân nga lời tự tình dân tộc . Bạn về trường nghe khúc nhạc quen thuộc nổi tiếng trỗi dậy, dường như  không ai bảo ai, tất cả đều hát theo hoà thành đội ngũ, giọng già hoà giọng trẻ với lời ca say mê, khao khát .

HÁT VỀ MÁI TRƯỜNG MẾN YÊU
(Bài ca Đại học Nông Nghiệp 2 )

“Trường của ta giữa cánh đồng Hà Bắc mênh mông, gió sông Thương sông, Cầu thổi lên trong lòng ta tiếng hát.Yêu đất nước, yêu ruộng đồng ta mang trong lòng mơ ước xây dựng quê hương.

Sinh viên ta ơi! Reo ca vang lên mà đi tới, dưới trường này trang sách rộng mở, chân trời tương lai.Trên cánh đồng xanh ta chăm luyện rèn, đôi tay lao động, học ươm mầm xanh, học gieo học cấy, học nuôi đàn lợn, học chăm đàn gà, một khúc dân ca, tình thầy nghĩa bạn. Hôm nay quây quần ta cùng nhau ca múa, rồi mai đây đi xa như đàn chim tung cánh đường dài không lùi bước khắp mọi miền đất nước, rồi mai đây đi xa lòng ta vẫn nhớ, nhớ mái trường này ta mến ta yêu.nhớ mai trường này ta mến ta yêu.

Trường của ta đứng giữa lòng thành Huế thân thương, gió sông Hương đêm ngày thổi lên trong lòng ta tiếng hát. Yêu đất nước, yêu ruộng đồng ta mang trong lòng mơ ước xây dựng quê hương.

Sinh viên ta ơi! Reo ca vang lên mà đi tới, dưới trường này trang sách rộng mở, chân trời tương lai.Trên cánh đồng xanh ta chăm luyện rèn, đôi tay lao động, học ươm mầm xanh, học gieo học cấy, học nuôi đàn lợn, học chăm đàn gà, một khúc dân ca, tình thầy nghĩa bạn. Hôm nay quây quần ta cùng nhau ca múa. Rồi mai đây đi xa như đàn chim tung cánh đường dài không lùi bước trên mọi miền đất nước, rồi mai đây đi xa lòng ta vẫn nhớ, nhớ mái trường này ta mến ta yêu, nhớ mai trường này ta mến ta yêu.” …

(Đề nghị Hai Trường thầy bạn bổ sung các video nhạc tuyển và tác giả, ca sĩ thể hiện)

Ai về Bắc ta theo với …

Nhân ngày lễ 30.4 và 1.5, lớp Trồng trọt 10A Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc chúng tôi kéo nhau về thăm trường cũ, gặp lại thầy bạn một thời,… náo nức, ước mong, … cái Vân, cái Chắt, cái Thanh, Hải, Thuận, Thi, Hạnh, Quảng… alô alô …“Anh đi không? Đi chứ. Đi nhé. Phải về thôi. Đi thôi. Bận cũng phải đi. Nhất định phải về, hi hi… ha ha… hehe… ngân nga câu thơ “Ai về Bắc ta theo với.Thăm lại Trường xưa mảnh đất nghèo. Từ thuở xuôi Nam noi nghiệp Tổ. Đền Hùng, Yên Tử, bóng trăng theo” . Chùm ảnh về thăm Trường cũ của Lớp Trồng trọt 10A

Qua sông Thương gửi về bến nhớ
 Ảnh

Ta lại hành quân qua sông Thương
Một đêm vào trận tuyến
Nghe Tổ Quốc gọi lên đường!
Mà lòng ta xao xuyến
Và hồn ta căng gió reo vui
Như dòng sông Thương chảy mãi về xuôi
Hôm nay ta ra đi
Súng thép trên vai nóng bỏng

Không qua nhịp cầu ngày xưa soi bóng
Phà đưa ta sang sông
Rạo rực trời khuya, thao thức trong lòng
Rầm rập dòng sông sóng nhạc
Như tình thân yêu muôn vàn của Bác
Tiễn đàn con ra đi

Tầu cập bến rầm rì tiếng máy
Tiếng động cơ sục dưới khoang tàu
Hay sôi ở trong lòng đất cháy
Hay giữa tim ta thúc giục lên đường
Chào bờ Bắc thân yêu hẹn ngày trở lại!

Ôi những con thuyền đèn trôi suốt canh khuya
Có khua nhẹ mái chèo qua bến cũ
Nhắn cho ai ngày đêm không ngủ
Rằng ta đi chưa kịp báo tin vui

Đêm nay bên dòng nước nghiêng trôi
Sông vẫn thức canh trời Tổ Quốc
Rạo rực lòng ta bồi hồi tiếng hát
Đổ về bến lạ xa xôi
Với biển reo ca rộng mở chân trời

Hoàng Kim
(Rút trong tập THƠ VIỆT NAM 1945-2000
Nhà Xuất bản Lao động 2001, trang 646)
Ảnh sông Thương của Anh Phương
Thầy, bạn là lộc xuân của cuộc đời

Tình yêu trên dòng sông quan họ

Chiều sông Thương

Trở về trang chính

Nhớ Linh Giang quê hương


DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Hoàng Kim

Nhà mình gần ngã ba sông

Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con
Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn
Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

River hometown

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river
My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder ”
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by Ngocphuong Nam

LINH RIVER

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

Khúc hát sông quê

Nhạc Nguyễn Trọng Tạo, thơ Lê Huy Mậu, thể hiện  Anh Thơ

Xem thêm:

“LINH GIANG” LÀ SÔNG NÀO ?

Bulukhin (Nguyễn Quốc Toàn)

Đang Chưa biết  viết gì lên blog thì báo Quảng Bình có thư gửi Bu mời viết báo xuân và báo tết. Xong được một bài Bu post lên multi mời các bạn đọc chơi và nếu có có lời góp  ý chỉ bảo thì Bu tui cảm ơn lắm

Đã từ lâu, người dân Quảng Bình và những ai quan tâm đến sử ký,  địa lý nước nhà, đều nghĩ rằng sông Gianh trước đây có tên là Linh Giang.  Nhưng mới đây, tạp chí Xưa & Nay – Hội khoa học Lịch sử Việt Nam số 341 tháng 10 năm 2009  đăng bài  viết của ông Tôn Thất Thọ có tựa đề   “LINH GIANG” LÀ SÔNG NÀO?  Ông dẫn ra các tư liệu lịch sử có đề cập đến tên Linh Giang, rồi chọn lấy tư liệu nào có niên đại cổ nhất để kết luận Linh Giang là tên cũ của sông Hương Thừa Thiên Huế, chứ không phải tên cũ của sông Gianh ở Quảng Bình. Tóm tắt bài viết của ông Thọ như sau:

1– Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) được biên soạn trước năm Tự Đức 29 (1875) viết: “Sông Linh Giang (sông Gianh): ở cách huyện Bình Chính 3 dặm về phía nam, bờ bắc thuộc huyện Bình Chính, bờ nam thuộc huyện Bố Trạch, lại có tên là sông Thanh Hà (ĐNNTC, T.2, sđd, tr40). Như thế thì ĐNNTC được biên soạn vào thời điểm sớm nhất cách nay cũng đã 134 năm.

2– Dư địa chí do ông Nguyễn Trãi soạn năm 1434  có đoạn viết: “Hải cập Vân, Linh Duy, Thuận Hóa. Hải, Nam Hải dã. Ải, sơn dã. Linh, thủy danh. Thuận Hóa, cổ Việt Thường bộ” (dịch: Bể cùng núi Vân, sông Linh là ở Thuận Hóa – Bể là bể Nam Hải. Vân là Ải Sơn. Linh là tên sông. Thuận Hóa xưa là bộ Việt Thường)

3– Ô Châu cận lục do Ông Dương Văn An nhuận sắc năm 1553 đã chép rất rõ ràng về tên gọi sông Linh Giang: “Sông Linh Giang . Sông do hai nguồn Kim Trà và Đan Điền chảy vào, rộng sâu vô cùng, khúc uốn quanh co rất hữu tình. Phía tây nam có đền thờ Tứ Vị và trạm dịch Địa Linh. Phía đông bắc có chùa Sùng Hóa và bia Hoằng Phúc. Các nha môn như hiến ty, huyện đường, chưởng vệ đều đặt ven hai bên sông” (ÔCCL, Sđd, tr.24). Đền chùa danh lam: Chùa Sùng Hóa. Chùa ở xã Lại Ân huyện Tư Vinh trước có sông Linh Giang bao bọc, sau có đầm lớn vòng quanh, phía nam có sông Hòa Tài, phía bắc có bia Sùng Phúc….đây là ngôi chùa nổi tiếng ở Hóa Châu (ÔCCL tr.78)

4– Phủ Biên tạp lục do ông Lê Quý Đôn soạn năm 1776 đã chép: “Sông cái Đan Điền nguồn ở rất xa, bờ nam bờ bắc sông đều có dân cư, thành lớn Thuận Hóa ở về hạ lưu. Huyện Kim Trà ở ngả

Ba sông Kim Trà …” (PBTL, Sđd, tr.96) … “Từ bến các xã phường Lộc Điền Lũ Đăng đi thuyền theo sông Đại Linh là phía hữu sông, Đại Linh tức sông Gianh , qua hai xã Vân Lôi, La Hà, đến ngả ba là chỗ sông Gianh và sông Son gặp nhau” (PBTL, Sđd, tr.101)

5– Để xác định thêm một lần nữa vị trí chùa Sùng Hóa, tác giả viết: “Về vị trí chùa Sùng Hóa, sách Đại Nam nhất thống chí, T.1, quyển 2 phủ Thừa Thiên chép: “ở xã Triêm An huyện Phú Lộc. Năm nhâm dần bản triều Thái tổ thứ 45 thuyền ngự qua xã này nhận thấy phía đông bắc bờ sông cây cối xanh tươi, chim đàn lượn đỗ, lấy làm thích, bèn dừng thuyền ngắm cảnh, thấy có di tích chùa cổ, sai sữa chữa lại và cho tên hiện nay. Nay không biết chỗ nào” (ĐNNTC, T.1 Sđd, tr.183)

Sau khi dẫn ra các tư liệu trên, ông Thọ kết luận “Qua các địa danh và vị trí địa lý đã dẫn chứng trong các tư liệu có trước khi ĐNNTC ra đời (mà cụ thể là Ô Châu cận lục), như KimTrà, Đan Điền huyện Tư Vinh …ta thấy rằng Linh Giang là tên gọi chỉ con sông Hương ở Thừa Thiên – Huế chứ không phải là sông Gianh như các sử thần nhà Nguyễn đã chép!”

*

*   *

Người viết bài này đã đối chiếu những tư liệu mà ông Thọ trích dẫn và thấy rằng ông dẫn đúng như những gì mà sách in ra. Tuy nhiên cùng một sự việc mà tư liệu này ghi khác tư liệu kia, lại được tác giả dẫn ra cùng một lúc làm người đọc rối rắm khó hiểu, dẫn đến sức thuyết phục bài viết giảm đi. Chẳng hạn ở mục 3, sách Ô Châu cận lục khẳng định “Chùa Sùng Hóa ở xã Lại Ân huyện Tư Vinh trước có sông Linh Giang bao bọc, sau có đầm lớn vòng quanh”, nhưng đến mục 5 tác giả lại trích ĐNNTC bảo rằng Chùa Sùng Hóa “ở xã Triêm An huyện Phú Lộc”. Ai cũng biết sông Hương được tính từ ngả ba Bằng Lãng, nơi gặp nhau của nguồn Tả Trạch và nguồn Hữu Trạch  cho đến cửa biển Thuận An dài 33 km làm sao mà chảy qua địa phận huyên Phú Lộc được. Cũng ở mục 3, ông Dương Văn An viết trong Ô Châu cận lục: “Phía  tây nam (sông Linh Giang) có đền thờ Tứ Vị và trạm dịch Địa Linh. Phía đông bắc (sông Linh Giang) có chùa Sùng Hóa và bia Hoằng Phúc”. Như vậy, tên chùa Sùng Hóa có từ thời nhà Mạc, nhưng đến mục 5 thì tên chùa Sùng Hóa lại do “…Bản triều Thái tổ thứ 45 thuyền ngự qua xã này nhận thấy phía đông bắc bờ sông cây cối xanh tươi, chim đàn lượn đỗ, lấy làm thích, bèn dừng thuyền ngắm cảnh, thấy có di tích chùa cổ, sai sửa chữa lại và cho tên hiện nay”. Vậy thì tên chùa Sùng hóa do bản triều Thái tổ thứ 45 đặt ra hay đã có từ thời nhà Mạc. Và cứ theo ông Lê Quý Đôn (mục 5) nói rằng sông Đại Linh là sông Gianh. Chữ nôm: “sông” trước hai chữ “Đại Linh” là cách nói nửa nôm nữa Hán, vậy nếu nói thuần túy theo từ Hán Việt thì sông Đại Linh chính là Đại Linh Giang. “Đại” ở đây là tính từ chỉ sự lớn, còn Linh Giang là danh từ chỉ tên sông.  Đương nhiên lớn để so sánh với nhỏ, vậy xin dẫn ra đây vài số liệu nói về quy mô giữa sông Gianh và sông Hương.

– Chiều dài: Sông Gianh 160 km, sông Hương 30 km

– Lưu lượng trung bình: Sông Gianh 252 m3/s, sông Hương 179m3/s

– Diện tích lưu vực: Sông Gianh 4.680 km2, sông Hương 713 km2

Cũng cần nói thêm, từ Gianh không có nghĩa, nó chỉ là phương ngữ của người miền bắc chỉ cây cỏ tranh, trong thành ngữ “nhà gianh vách đất”. Tôi tin là người Quảng Bình từ xa xưa không dùng từ Gianh vô nghĩa đặt cho tên sông, mà do biến thể của một từ  nào đó chẳng hạn từ  ranh trong “ranh giới” thời Trịnh Nguyễn phân tranh, hoặc từ “Giang” trong Đại Linh Giang như đã nói.

Và cứ cho là sông Hương đã từng có tên là Linh Giang thì việc trùng tên giữa hai con sông cũng không có gì lạ. Ở Việt Nam ta  việc trùng địa danh khá nhiều: Chẳng hạn Thừa Thiên – Huế có phá Hạc Hải thì huyện Quảng Ninh của Quảng Bình cũng có đầm Hạc Hải. Quảng Bình có sông Nhật Lệ thì ở Hà Tĩnh cũng có núi Nhật Lệ ở địa phận hai xã Ngụy Dương và Đại Nại (ĐNNTC . tập 2, tr. 90,  nxb Thuận Hóa 1992). Vậy thì có hai sông Linh Giang, một lớn ở Quảng Bình và một nhỏ ở Thừa Thiên Huế cũng là chuyện thường. Người viết bài này cho rằng các sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn khi viết Đại Nam nhất thống chí không thể không tham bác các sách Ô Châu cận lục,  Dư địa chí, Phủ biên tạp lục. Thậm chí họ còn tham bác cả Tấn thư Châu quận chí mà học giả Đào Duy Anh trích ra trong “Đất nước Việt Nam qua các đời” (nxb Thuận Hóa 1994). Ở trang 80 sách này viết: “Tấn thư Châu quận chí nói rằng năm Thái Khang thứ 10 chia quận Tây Quyển mà lập huyện Thọ Linh, sông Thọ Linh là sông Linh Giang”. Thái Khang thứ 10 là năm 290 đời vua

Vũ Đế thời Tây Tấn cách nay khoảng 1719 năm. Ngày nay huyện Thọ Linh không còn nữa nhưng Thọ Linh vẫn là tên của một thôn thuộc xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Hai chữ Thọ Linh  minh chứng cho lời ghi của Tấn thư Châu quận chí như đã trích dẫn.  Vậy, Phủ biên tạp lục gọi sông Gianh là sông Đại Linh, tức là Đại Linh Giang, dân chúng nói gọn hơn: Linh Giang, hoàn toàn phù hợp với Đại Nam nhất thống chỉ của Quốc sử quán triều Nguyễn vậy.

Linh Giang


(xem tiếp)

Sông Gianh chín nhịp cầu

Tâm tình với sông Gianh

Ðôi bờ sông Gianh

Sâu lắng tiếng thơ đất phương Nam

DẠY VÀ HỌC. Chuyển tải những bài thơ hay và giọng ngâm mượt mà sâu lắng trên VOV MEDIA. Mời các bạn lắng nghe những cung bậc cảm xúc về mảnh đất phương Nam qua các bài thơ mới thu thanh của các tác giả: Quân Tấn, Hữu Phước, Võ Tấn Cường, Đỗ Văn Đông và Nguyễn Lập Em. Tiếp đó là cuộc trò chuyện giữa Biên tập viên chương trình Văn nghệ với tác giả Bùi Văn Bồng về tập thơ Gửi gió trời Nam (nghe tiếng thơ tại đây)

Lắng cảm xúc VỀ QUÊ của Phó Đức Phương, Xuân Hinh

xem tiếp

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Động Thiên Đường tuyệt đẹp

NGỌC PHƯƠNG NAM.”Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai;  Chuyện xua nay gặp lại  Thiên Đường nơi hạ giới. Đẹp lung linh mê hồn“. Các nhà thám hiểm Hội Hang động Hoàng gia Anh  (BCRA) khi phát hiện ra hang động Thiên Đường năm 2005 đã bàng hoàng kinh ngạc trước vẽ đẹp kỳ ảo thần tiên chỉ có thể thốt lên được hai tiếng Thiên Đường !  Mời bạn đọc bài “Đẹp gấp mười lần động Phọng Nha” của nhà văn Phạm Viết Đào, bài  Khám phá động thiên đường nơi trần gian của Minh Cường và thưởng thức động Thiên Đường kỳ quan tuyệt đẹp chùm ảnh của Hoàng Kim và bạn hữu lớp 10A Trồng Trọt. Đây là chuyến đi VỀ NGUỒN thăm quê hương yêu thương và hiếu học nhân Kỹ niệm 45 năm (1967-2012) thành lập Trường  Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc, nay là Đại học Nông Lâm Huế (xin vui lòng dẫn nguồn NGỌC PHƯƠNG NAM http://hoangkimvietnam.wordpress.com khi chia sẽ hình ảnh Động Thiên Đường trong bộ sưu tập này)


Còn tiếp  (…)

Xem thêm

Động Thiên Đường, Quảng Bình

Chuyện tình Phong Nha

Bài viết cùng chủ đề

Động Thiên Đường, Bố Trạch, Quảng Bình

Trở về trang chính

Biển Nhật Lệ Quảng Bình

NGỌC PHƯƠNG NAM.  Ban mai trên biển Nhật Lệ, Quảng Bình. Chùm ảnh của Hoàng Kim và bài thơ Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

http://kimlovelife.wordpress.com/2011/10/30/xa-khơi-va-chum-thơ-về-biển/ 

xem tiêp:

Phố biển tình anh – Hoàng Xuân Hương


Nhật Lệ trăng huyền thoại – Thành Lê


Thơ hay vê biên (Hoàng Kim thu thập, tuyển chọn)
Chùm thơ vê biển (Cát Biển)
Chùm thơ về biên (Hoa Diên Vĩ)
Chùm thơ về BIỂN
của Lương Đình Khoa

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC